Skip to content
Huyền Môn – Hệ sinh thái huyền học

Huyền Môn – Hệ sinh thái huyền học

  • Lịch ngày tốt
  • An sao tử vi
  • Lá số tử bình – tứ trụ
  • Bản đồ sao Astrology
  • Luận quẻ dịch
  • Phong thuỷ bát trạch
  • Thần số học Pythagoras
  • Tài liệu
    • Tử vi
    • Tử bình – tứ trụ
    • Thần số học Pythagonas
    • Tài liệu thiên văn – lịch pháp
    • 12 cung hoàng đạo (Zodiac sign)
    • Tài liệu triết học, tôn giáo
    • Thuyết âm dương ngũ hành và kinh dịch
    • Phong thuỷ
    • Tướng pháp và con người
    • Văn hoá phong tục
  • Diễn đàn
    • Tử vi
    • Tử bình – tứ trụ
    • Phong thuỷ
    • Thần số học Pythagonas
    • Xem tướng, luận chữ viết, đặt tên
    • Dịch lý, thiên văn, xem ngày, luận tuổi
    • Hỏi đáp tổng hợp
  • Toggle search form

Trang chủ

Dương lịch và âm lịch

Người Việt Nam thường sử dụng cả Dương lịch và Âm lịch, nhưng phần nhiều không để ý tìm hiểu, không biết được bản chất của hai thứ lịch này.
Nhiều người không những không hiểu, mà còn hoàn toàn hiểu sai, kể cả một số nhà khoa học lớn, có học hàm, học vị cao và chức vụ lớn. Tai hại của chuyện này là người bình thường nghe các cụ ấy nói, lại tưởng đó là chân lý bất di bất dịch, và cái sai trái ấy được lan truyền rất rộng rãi khắp đất nước.

1. DƯƠNG LỊCH LÀ GÌ?

Dương lịch là việc phân chia sắp xếp thời gian thành Ngày, Tháng, Năm, theo vòng quay của Trái đất quanh Mặt trời. “Dương lịch” tiếng Anh là “Calendar; tiếng Nga là “календарь”; tiếng Trung Quốc là “日曆” (“Nhật lịch”, nghĩa là “Lịch Mặt trời”).

2. ÂM LỊCH LÀ GÌ?

Âm lịch là việc phân chia sắp xếp thời gian thành Ngày, Tháng, Năm theo vòng quay của Mặt trăng quanh Trái đất. “Âm lịch” tiếng Anh là “Lunar calendar”, nghĩa là “Lịch trăng”; tiếng Nga là “Лунный календарь” (nghĩa là “Lịch theo trăng”); tiếng Trung Quốc là “陰曆” (“Âm lịch”).

3. TẠI SAO NGƯỜI VIỆT NAM LẠI GỌI “ÂM LỊCH” VÀ “DƯƠNG LỊCH”?

Hai từ này là tiếng Hán, chứ không phải là tiếng Việt, “Lịch” (曆, 历) trong tiếng Hán là “sắp xếp giờ giấc”; “Dương” (陽, 阳), và “Âm” (陰, 阴) là hai từ của Kinh Dịch xưa của người Tàu. Kinh Dịch cho rằng mọi vật, mọi hiện tượng trong Vũ trụ này được tạo thành bởi hai mặt đối lập, gọi là hai mặt “Dương” và “Âm”. Ví dụ: “Con người và mọi sinh vật” đều gồm hai giới, “Dương” là đàn ông, là giống đực, “Âm” là đàn bà, là giống cái. Thiên văn cổ với hiểu biết thô sơ, cho rằng Trái đất là trung tâm Vũ trụ, còn có hai thiên thể lớn nhất Vũ trụ là Mặt trăng và Mặt trời, và họ nghĩ rằng đây là hai vật thể đối lập, họ gọi Mặt trời là “Thái Dương”, Mặt trăng là “Thái Âm”, với chữ “Thái” (太) trong tiếng Tàu nghĩa là “rất lớn”, “vượt mức”.
Từ xưa người Trung Hoa đã biết làm lịch, theo vòng quay của Mặt trăng quanh Trái đất. Về sau, tới khi người Trung Hoa tiếp thu Lịch Mặt trời của phương Tây, thì họ gọi Lịch phương Tây là “Nhật lịch” (日曆, 日历) hoặc đôi khi gọi là “Dương lịch” (陽曆, 阳历), và gọi Lịch của họ là “Âm lịch” (陰历, 阴历) và đôi khi gọi “Nguyệt lịch” (月曆, 月历).
Người Việt Nam học theo tiếng nói của người Trung Hoa, là Âm lịch và Dương lịch. Còn đôi khi gọi Dương lịch “Lịch Tây”, còn “Âm lịch” là “Lịch Ta”. Thực ra nói “Lịch Ta” là không chính xác, vì không có Lịch của người Việt Nam, mà chỉ có Lịch Tây của người Tây và Lịch Tàu của người Tàu.

4. NHỮNG NÉT CỐT LÕI CỦA VIỆC LÀM LỊCH

Thứ nhất: Đo thời gian quay được 1 vòng của Mặt trời và của Mặt trăng.
Thứ hai: Qui định số tháng của một năm, để tính ra số ngày của 1 tháng.
Thứ ba: Qui định thứ tự của năm, để xác định vị trí của một năm cụ thể trong suốt hàng ngàn triệu năm.

5. VỚI LỊCH MẶT TRỜI

Bình thường chúng ta tưởng Mặt trời quay quanh Quả đất, nhưng thực ra Quả đất quay quanh Mặt trời. Hơn 2.200 năm trước, người Tây đã đo được thời gian đó, là 365 ngày, và qui định đó là 1 năm.
Mỗi năm họ chia làm 12 tháng, mỗi tháng hơn 30 ngày rưỡi, và để làm tròn số ngày của tháng, họ quy định chặt chẽ như sau: Tháng Giêng 31 ngày, tháng Hai 28 ngày, tháng Ba 31 ngày, tháng Tư 30 ngày, tháng Năm 31 ngày, tháng Sáu 30 ngày, tháng Bảy 31 ngày, tháng Tám 31 ngày, tháng Chín 30 ngày, tháng Mười 31 ngày, tháng Mười Một 30 ngày, tháng Mười Hai 31 ngày.
Và qui định mỗi tuần có 7 ngày, mỗi ngày có 24 giờ.
Vài trăm năm sau khi Giê-su chết, Giáo hội phương Tây thống nhất chọn 1 thời điểm làm ngày đầu tiên của Dương lịch. Họ đã chọn sau ngày sinh của Giê-su 1 tuần, gọi là Ngày Đầu tiên của Dương lịch, tức là ngày mồng một tháng Giêng năm thứ nhất (số 1).
Sinh thời của Giê-su chưa có Lịch Tây này, nên Giáo hội không biết gọi ngày sinh của Giê-su là ngày bao nhiêu? tháng năm nào? Sau khi có qui định kể trên thì mới có ngày sinh của Giê-su là 25/12 năm -1. Cũng nhờ qui định này mà người ta mới có thứ tự của năm, và có thể xác định vị trí của một năm cụ thể trong suốt hàng ngàn triệu năm.
Khoảng thế kỷ thứ 6 người phương Tây đo đạc lại, kết quả là thời gian quay quanh Mặt trời của Quả đất chính xác hơn số cũ trước Công nguyên (365 ngày), là 365 ngày 6 giờ. Như vậy nếu lấy một năm chỉ 365 ngày như Lịch cũ, thì mỗi năm sẽ thiếu đi 6 giờ, sau 4 năm sẽ thiếu đi 24 giờ, bằng 1 ngày. Việc này dẫn đến 1 hệ quả nghiêm trọng, là sau 120 năm Lịch sẽ bị sai lệch mất 1 tháng, và sau (120 năm x 6) = 720 năm Lịch sẽ lệch đi 6 tháng, nghĩa là đảo lộn 4 mùa, mùa đông vào tháng 6 và mùa hè vào tháng 12. Giáo hội đã quyết định sửa Lịch như sau: Cứ 4 năm thì thêm vào 1 ngày, là ngày 29/2. Người Việt Nam nói theo tiếng Tàu, gọi ngày “thừa” này là ngày “nhuận 閏” và tháng 2 Dương lịch là tháng “nhuận”. Tiếng Tàu, chữ “Nhuận” “閏” nghĩa là “xen vào giữa, thừa ra”.
Khoảng thế kỷ thứ 9, người ta đo lại thời gian quay 1 vòng quanh Mặt trời của Trái đất không phải là 365 ngày 6 giờ, mà chính xác hơn là 365 ngày 5 giờ 48 phút 16 giây. So với số đo cũ, 365 ngày 6 giờ, thì thừa ra: 6 giờ – (5 giờ 48 phút 16 giây) = 11 phút 44 giây.
Người ta đã tính cách bù trừ như sau: cứ 400 năm, nếu theo lịch cũ thì sẽ thừa ra: (11 phút 44 giây) x 400 năm = 78 giờ = 3 ngày + 6 giờ.
Giáo hội phương Tây quyết định sửa Lịch như sau:
– Cứ 400 năm (4 thế kỷ) thì bỏ bớt đi 3 ngày nhuận, 29/2 của 3 thế kỷ. Ba ngày bị bỏ này được qui định là ngày nhuận đầu tiên, của năm đầu tiên, của những thế kỷ có số thứ tự không chia hết cho 4. Qui định này giúp bỏ bớt được 3 ngày x 24 giờ = 72 giờ. Vẫn còn dư 6 giờ, vẫn còn phải tìm cách bỏ đi 6 giờ này.
– 400 năm còn dư 6 giờ, vậy thì phải mất bao nhiêu năm để số dư là 24 giờ của 1 ngày: Số năm tương ứng với số dư còn lại: 24 giờ/ 6 giờ x 400 năm = 1.600 năm.
Từ đây Giáo hội La Mã còn phải thêm 1 qui định, cứ 16 thế kỷ, 1.600 năm, thì phải bỏ thêm 1 ngày nhuận. Cụ thể là năm đầu tiên của thế kỷ 17, là năm 1600, đáng lẽ phải bỏ ngày nhuận 29/2 (theo qui định Lịch cũ), nhưng không bị bỏ.
Câu chuyện Lịch cũ – Lịch mới này đã dẫn đến nhiều chuyện “tréo ngoe” trong lịch sử. Ví dụ: “Cách mạng tháng 10 Nga” ngày 25/10/1917, lại diễn ra vào ngày 7/11/1917 theo lịch mới.
Khoảng thế kỷ 8 đã phát sinh mâu thuẫn rất lớn trong nội bộ Giáo hội, Giáo hội Giê-su bị chia làm hai: Giáo hội phương Tây với trung tâm là thành phố La Mã (Roma, nước Ý), và Giáo hội phương Đông, với trung tâm là thành phố Constantinop. Nguyên nhân của sự phân chia là, phe phương Đông phê phán phe phương Tây về những “cải cách”, mà theo họ đã hủy hoại giáo lý cơ bản của Giê-su; còn phe phương Đông kiên trì giữ nguyên giáo lý cơ bản của Giê-su, tự cho mình là “Chính thống giáo”.
Một trong những phê phán của phương Đông, là phương Tây đã sửa đổi Lịch cũ thành Lịch mới. Còn phe Chính thống phương Đông kiên trì sử dụng lịch cũ. Trung tâm của phe phương Đông khoảng thế kỷ 13 đã chuyển sang thành phố Moscow của Đế quốc Nga. Nhà nước Nga cũng chỉ công nhận lịch cũ.
Đến thế kỷ 20 Lịch mới đã bỏ đi 16 ngày nhuận (của năm 100, 200, 300, 500, 600, 700, 900, 1000, 1100, 1300, 1400, 1500, 1600, 1700, 1800, 1900), dẫn đến kết quả là Lịch mới “chạy trước” Lịch cũ 16 ngày, ngày 7/11/1917 chạy trước ngày 25/10/1917 đúng 16 ngày.

6. VỚI LỊCH MẶT TRĂNG

Hơn 2.000 năm trước người Trung Hoa đã đo được Tuần Trăng (khoảng thời gian giữa hai kỳ trăng tròn), là 29 ngày rưỡi. Họ gọi thời gian này là 1 tháng. Cho nên trong tiếng Tàu chữ “Tháng” và chữ “Trăng” là cùng một chữ “Nguyệt” (月), chứ không phải như trong tiếng Việt, “Tháng” và “Trăng” là hai từ khác nhau, thể hiện hai khái niệm khác nhau.
Để làm tròn số ngày trong 1 tháng, Lịch Tàu qui định Tháng Lớn (Đại Nguyệt, 大月) có 30 ngày, Tháng Nhỏ (Tiểu Nguyệt, 小月) có 29 ngày, người Việt Nam dùng Lịch Tàu gọi là “Tháng đủ” và “Tháng thiếu”. Họ quan sát thấy khí hậu thay đổi tuần hoàn với chu kì khoảng 12 tháng, từ đó Lịch Tàu qui định 1 năm có 12 tháng.
Lịch này giúp con người xác định được chính xác ngày nào trăng tròn, và ngày nào thủy triều trên biển dâng cao nhất, ngoài ra không liên quan gì đến thời tiết, khí hậu, mùa màng, nông nghiệp…
Có thể gọi Lịch này là “Âm Lịch Nguyên Thủy”.
Với lịch này, mỗi năm chỉ có 12 tháng x 29,5 ngày/tháng = 354 ngày. Nếu so với chu kỳ biến đổi khí hậu trên mặt đất, thì mỗi năm bị thiếu mất 365 ngày – 354 ngày = 11 ngày, sau ba năm sẽ thiếu mất 1 tháng. Và như vậy sau (3 năm) x 6 = 18 năm thì Lịch sẽ sai lệch với thiên nhiên 6 tháng, nghĩa là 4 mùa sẽ đảo lộn, tháng 6 là mùa đông, tháng 12 là mùa hè.
Hiện nay trên thế giới vẫn tồn tại “Âm Lịch Hồi giáo”, giống hệt “Âm Lịch Nguyên Thủy” của người Tàu.
Sau nhiều năm quan sát, người Tàu thấy 1 năm nếu chỉ 12 tháng thì không phù hợp với sự biến đổi thiên nhiên, và họ qui định gần đúng, cứ bốn năm thì phải thêm 1 tháng nhuận.
Khoảng hơn 1.000 năm trước các nhà khoa học thiên văn của các đài thiên văn của Hoàng đế Trung Hoa đã quan sát, đo đạc, và họ cũng đã có kết quả giống như Lịch phương Tây, là một năm có 365 ngày 6 giờ, và thời gian quay vòng trung bình của Mặt trăng quanh Quả đất là 29,534 ngày
Nhưng người Trung Hoa không hủy bỏ Lịch Tàu, mà họ cải tiến nâng cao “Lịch Tàu Nguyên thủy” thành “Âm Lịch”, và gọi chính xác Lịch này là “Âm – Dương Lịch” (陰 陽 曆, 阴 阳 历). Ngày nay Âm lịch mà người Việt chúng ta đang sử dụng, chính là “Âm – Dương Lịch” của người Trung Hoa.

7. GIỐNG NHAU GIỮA “DƯƠNG LỊCH” VÀ “ÂM – DƯƠNG LỊCH” TRUNG HOA

– Thời gian của 1 năm là 365 ngày 5 giờ 48 phút 16 giây
– Mỗi năm có 12 tháng.
– Dương lịch chia mỗi ngày thành 24 giờ, với 12 giờ buổi sáng (AM) và 12 giờ buổi chiều (PM), tên gọi của mỗi giờ theo thứ tự, từ 0 giờ đến 23 giờ. Âm Dương Lịch chia mỗi ngày thành 12 giờ với những tên gọi riêng cho từng giờ, liên quan chặt chẽ với 24 giờ Dương lịch:

  1. Giờ Tý từ 0 giờ đến hết 1 giờ
  2. giờ Sửu từ 2 giờ đến hết 3 giờ
  3. giờ Dần từ 4 giờ đến hết 5 giờ
  4. giờ Mão từ 6 giờ đến hết 7 giờ
  5. giờ Thìn từ 8 giờ đến hết 9 giờ
  6. giờ Tỵ từ 10 giờ đến hết 11 giờ
  7. giờ Ngọ từ 12 giờ đến hết 13 giờ
  8. giờ Mùi từ 14 giờ đến hết 15 giờ
  9. giờ Thân từ 16 giờ đến hết 17 giờ
  10. giờ Dậu từ 18 giờ đến hết 19giờ
  11. giờ Tuất từ 20 giờ đến hết 21 giờ
  12. giờ Hợi từ 22 giờ đến hết 23 giờ

8. KHÁC NHAU GIỮA “DƯƠNG LỊCH” VÀ “ÂM – DƯƠNG LỊCH” TRUNG HOA:

* Việc làm lịch
Làm Lịch Tây vô cùng đơn giản, chỉ cần tuân thủ 1 số qui định như đã nói ở phần trên (mục 5). Nên bất cứ ai cũng có thể “nhắm mắt” viết ra đầy đủ chính xác Lịch của một năm nào đó, của quá khứ và cả của tương lai. Còn làm Âm – Dương lịch, công việc không đơn giản một tí nào, với hàng ngàn bài tính phức tạp, rắc rối, liên quan đến những thông số Thiên văn Địa lý của Mặt trăng, Trái đất, Mặt trời, và rất nhiều mối liên quan, rất nhiều qui ước vô cùng phức tạp.
Lưu ý rằng, làm Âm – Dương lịch là phải sử dụng “bài toán 3 vật thể trong không gian”, bài toán này đến nay khoa học của nhân loại vẫn chưa giải được trọn vẹn, mặc dù đã được những nhà Toán học giỏi nhất thế giới dày công nghiên cứu hàng ngàn năm nay.
Hàng năm, để lập nên Âm – Dương lịch của năm tiếp theo, phải mở hội nghị, tập hợp những nhà làm Lịch chuyên nghiệp, kỳ cựu, thảo luận, tính toán.
Lịch này cũng có lắm chuyện “tréo ngoe”.
Ví dụ Lịch năm Mậu Thân (1968), Miền Bắc theo múi giờ thứ 7, còn Miền Nam theo múi giờ thứ 6, theo đúng qui tắc tính toán làm Âm – Dương lịch, thì ngày Âm lịch của 2 miền chênh lệch nhau 1 ngày, dẫn đến kết quả: ngày 30 Tết của Miền Bắc lại là ngày mồng 1 Tết của Miền Nam!
– Ngày Tiết: Dương lịch có 8 “ngày Tiết”, 8 “ngày Tiết” này giúp xác định 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông trên Trái đất:
Trái đất tự quay xung quanh theo trục Bắc – Nam, 1 vòng hết 24 giờ, tạo ra ngày và đêm.
Đồng thời Trái đất quay vòng quanh Mặt trời trong 365 ngày và gần 6 giờ, tạo thành 1 năm. Mặt phẳng mà Trái đất quay quanh Mặt trời gọi là Mặt phẳng Hoàng đạo. Trong suốt quá trình quay quanh Mặt trời, trục tự quay Bắc – Nam của Trái đất luôn giữ một Phương không đổi, Phương này lệch với mặt phẳng Hoàng đạo 23 độ rưỡi.
Nhờ có độ lệch này mà trên mặt của Quả đất có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Nếu không có độ lệch này thì trên Mặt đất không có 4 mùa, quanh năm khí hậu như nhau.
Dương lịch gọi ngày bắt đầu Mùa Xuân là ngày Lập Xuân,
ngày chính giữa Mùa Xuân là ngày Xuân Phân
ngày bắt đầu Mùa Hạ là ngày Lập Hạ
ngày chính giữa Mùa Hạ là ngày Hạ Chí
ngày bắt đầu Mùa Thu là ngày Lập Thu
ngày chính giữa Mùa Thu là ngày Thu Phân
ngày bắt đầu Mùa Đông là ngày Lập Đông
ngày chính giữa Mùa Đông là ngày Đông Chí.
Những Ngày Tiết này hoàn toàn xác định bởi vị trí của Quả đất trong vòng quay quanh Mặt trời. Mỗi mùa có hơn 91 ngày, và mỗi Ngày Tiết nói trên cách nhau hơn 45 ngày. Tám Ngày Tiết này gần như cố định trong Dương lịch:

  • Lập xuân ngày 6/2
  • Xuân Phân ngày 21/3
  • Lập Hạ ngày 6/5
  • Hạ chí ngày 21/6
  • Lập thu ngày 6/8
  • Thu Phân ngày 21/9
  • Lập Đông ngày 6/11
  • Đông chí ngày 21/12.

Do có những năm nhuận nên tám Ngày Tiết này có thể lệch đi, chậm mất 1,2 ngày.
Âm – Dương lịch cũng có tám Ngày Tiết như vậy. Nhưng trong Âm – Dương lịch, ngày tháng không được sắp xếp thứ tự chặt chẽ như trong Dương lịch, mà biến hóa vô cùng rắc rối, cho nên các nhà làm Lich phải hết sức khốn khổ mới tính ra được ngày Âm lịch của tám ngày Tiết. Tám Ngày Tiết đó không cố định như trong Dương lịch, mà mỗi năm một khác. Cho nên muốn biết Ngày Tiết là ngày nào trong năm Âm lịch thì chỉ có một cách duy nhất là đọc lịch của năm đó.
Về sau người Trung Hoa có một cách xác định Ngày Tiết dễ dàng hơn, khỏi phải tính toán phức tạp, là đem so sánh Âm – Dương lịch mà họ vất vả tạo ra hàng năm, với Dương lịch của năm tương ứng, rồi gán Ngày Tiết của Dương lịch vào Âm – Dương lịch của họ.
Đại đa số người Việt Nam không biết về câu chuyện Ngày Tiết này, cứ tưởng Ngày Tiết là của Âm lịch Trung Hoa. Ở Việt Nam ngay cả nhiều nhà làm Lịch cũng không biết điều này, nên khi in Lịch, cứ gán Ngày Tiết cho Âm lịch.
Âm – Dương lịch của Trung Hoa còn thêm 16 ngày Tiết, chen vào giữa tám Ngày Tiết kia, họ chia khoảng cách giữa hai Ngày Tiết của Dương lịch làm ba phần đều nhau, rồi chèn thêm hai Ngày Tiết của họ. Thực ra 16 Ngày Tiết chèn vào này cũng giống 8 Ngày Tiết trên kia, họ không cần tính toán mệt nhọc, mà chỉ cần so sánh với Lịch Tây để chọn ngày tương ứng.
* Việc đặt tên năm:
Dương lịch không đặt tên riêng cho từng năm, mà gọi năm theo thứ tự, từ năm số 1 trở đi, cách gọi tên này thật đơn giản, nhưng lại vô cùng thuận lợi và chính xác, giúp người ta dễ dàng xác định được các sự kiện xảy ra trong thời kì lịch sử nào của nhân loại, của dân tộc, của dòng họ, của cá nhân.
Còn Âm – Dương lịch đặt tên theo “Thiên Can Địa Chi”:
có 10 “Can”: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý
và 12 “Chi”: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
Tên của 1 năm được ghép bởi 1 từ thuộc “Can” và 1 từ thuộc “Chi”, ví dụ: năm Quang Trung lên ngôi Hoàng Đế, là năm Mậu Thân. Cách đặt tên này không giúp người ta biết gì, ví dụ: không biết việc đấy cách đây bao nhiêu năm, còn Lịch Tây ghi là năm 1788, rất dễ hiểu.
Cách đặt tên này còn qui định: 6 “Can” với số thứ tự lẻ chỉ được ghép với 6 “Chi” với thứ tự lẻ, 6 “Can” với số thứ tự chẵn chỉ được ghép với 6 “Chi” vói thứ tự chẵn. Kết quả là Âm – Dương lịch chỉ vẻn vẹn có 60 tên năm. Cứ sau 60 năm, tên năm lại bị lặp lại. Hậu quả là, trong vòng 300 năm có 5 năm khác nhau nhưng lại mang cùng 1 cái tên, trong vòng 2.400 năm có 40 năm khác nhau nhưng lại mang cùng 1 cái tên, biết đằng nào mà lần !
Có tên Can Chi cùa năm rồi, để có thể xác định vị trí của năm đó trong chiều dài của lịch sử, thì Âm lịch phải kèm theo 1 thông tin nữa, là năm ấy vào đời vua nào của Trung Hoa, hoặc đời vua nào của Việt Nam. Ví dụ: năm Quang Trung lên ngôi Hoàng Đế, là năm Mậu Thân, phải thêm thông tin: Đời Nhà Thanh Trung Hoa, Vua Thanh Cao Tông, Niên hiệu Kiền Long, năm thứ 43. Khi có đủ 2 thông tin nàyrồi, còn phài tra Bảng đối chiếu giữa các đời vua với năm Dương lịch, kết quả đối chiếu sẽ là, Quang Trung lên ngôi Hoàng Đế năm 1788.
Chuyện xác định năm Âm lịch thật sự rắc rối, nhất là không phải ai cũng có Bảng tra đối chiếu giữa các đời vua với năm Dương lịch.
Tên năm Can Chi còn gây ra một hệ lụy rất đáng buồn, 12 Can ứng với 12 con vật: Tý – Chuột, Sửu – Trâu, Dần – Hổ, Mão – Mèo, Thìn – Rồng, Tỵ – Rắn, Ngọ – Ngựa, Mùi – Dê, Thân – Khỉ, Dậu – Gà, Tuất – Chó, Hợi – Lợn.
Mê tín dị đoan cùng với thói quen và niềm tin hoang sơ vào Âm lịch, đã khiến đa số người Việt Nam đinh ninh rằng ai sinh ra vào năm con vật nào , thì thân phận gắn liền với thân phận vật con đó, nhiều người buồn vì số phận mình là số phận của loài Chó Lợn Trâu Ngựa Chuột Gà, nhiều người hí hửng vì số phận mình là số phận của loài Rồng, loài Hổ !

9. NHỮNG NHẬN THỨC SAI VỀ ÂM LỊCH

– Nhiều người nghĩ rằng Âm lịch là của người Việt Nam, là hoàn toàn sai.
Từ khi người Trung Hoa xâm lược và thống trị nước ta, họ ra sức đồng hóa nước ta về mọi mặt, văn hóa, ngôn ngữ… Riêng về ngôn ngữ, trong tiếng Việt mà chúng ta đang nói hàng ngày hiện nay, có hơn 70% là tiếng Tàu, gần 30% là tiếng thuần Việt.
Từ vốn tiếng thuần Việt mà chúng ta giữ lại được đến ngày nay, có thể thấy rằng, trước khi người Trung Hoa xâm lược và thống trị nước ta, dân ta đã có những khái niệm rất rõ ràng chính xác về giờ giấc, ngày đêm, năm, tháng, mùa, là những khái niệm cơ bàn để có thể làm nên Lịch, nhưng lúc đó dân ta chưa biết làm lịch.
– Nhiều người nghĩ rằng Âm lịch là Nông Lịch, là hoàn toàn sai.
Nhiều người ngày nay vẫn lầm tưởng như người cổ đại, rằng có hai thiên thể lớn nhất là Mặt trời và Mặt trăng. Nhưng thực ra Mặt trời lớn gấp khoảng 10 triệu lần Mặt trăng, Mặt trời là nguồn phát ra năng lượng và ánh sáng, còn Mặt trăng thì bé tẹo, không phát ra ánh sáng, mà chỉ phản chiếu ánh sáng của Mặt trời. Mọi tác động lên thiên nhiên và sinh quyển (kể cả nông nghiệp) trên Mặt đất đều xuất phát từ Mặt trời. Mặt trăng chỉ tác động lên Mặt đất hai việc, một là trăng sáng ban đêm, sáng nhất là đêm Rằm, hai là thủy triều trên biển lên xuống theo tuần trăng, triều lên cực đại vào ngày Rằm. Ngoài ra các loại sinh vật sống trong nước biển, về mặt sinh học cũng chịu tác động của thủy triều, tức là tác động của Mặt trăng. Ví dụ: Tôm cua lột vỏ theo tuần trăng.
Âm lịch phân chia thời gian theo tuần trăng, ngày tháng của Âm lịch hoàn toàn phụ thuộc vào vị trí tương đối giữa Mặt trăng và Quả đất, trong khi Mặt trăng không có tác dụng gì đối với Nông nghiệp. Nhưng nhiều người Việt Nam vẫn gọi Âm lịch là Nông Lịch, kể cả người Trung Hoa ngày nay (農曆, 农 历), và lầm tưởng tin rằng làm nghề Nông phải tuân thủ Âm lịch.
Cái lầm tưởng này có lẽ xuất phát từ chỗ, Âm lịch Trung Hoa có chèn thêm 16 Ngày Tiết, tên của mỗi Ngày Tiết nghe ra có vẻ liên quan đến Nông nghiệp và trồng trọt, đó là:

  • 1. Vũ thủy: thời tiết mưa ẩm ướt, mưa phùn, có gió thổi nhẹ.
  • 2. Kinh trập: sâu nở
  • 3. Thanh minh: bầu trời quang đãng
  • 4. Cốc vũ: mưa lớn
  • 5. Tiểu mãn: lũ nhỏ
  • 6. Mang chủng: thu hoạch ngũ cốc
  • 7. Tiểu thử: nắng nhẹ
  • 8. Đại thử: nắng nhiều
  • 9. Xử thử: hết nóng
  • 10. Bạch lộ: bắt đầu sương mù
  • 11. Hàn lộ: sương mù lạnh giá
  • 12. Sương giáng: sương mù dày đặc
  • 13. Tiểu tuyết: Tuyết nhỏ
  • 14. Đại tuyết: tuyết lớn
  • 15. Tiểu hàn: hơi lạnh
  • 16. Đại hàn: rất lạnh

Hơn nữa tên gọi và ý nghĩa của các Ngày Tiết này chỉ phù hợp với 1 địa phương hẹp chứ không phải phù hợp với toàn cầu. Ví dụ: Địa phương ở Bắc bán cầu hoàn toàn ngược với các địa phương ở Nam bán cầu, hoặc ở Việt Nam hoàn toàn không có tuyết, ở Nam bộ Việt Nam không có Đại hàn, Tiểu hàn như ở Bắc bộ.
– Bói toán theo ngày tháng năm Âm lịch là hoàn toàn dị đoan:
Các “Thầy” làm nghề bói toán, như “Thầy bói”, “Thầy số”, “Thầy cúng”, “Thầy chùa”, đều lấy ngày tháng năm Âm lịch làm cơ sở cho việc bói toán, nhưng như đã phân tích ở trên (mục 😎, Âm lịch cứ 60 năm lại lặp lại, nghĩa là theo Âm lịch chu kỳ hoạt động của thiên nhiên là 60 năm, điều này không hề có, mà chỉ là sự quy định tùy tiện của Âm lịch. Kết quả là bói toán theo ngày tháng năm Âm lịch là không có căn cứ khoa học, không có căn cứ thực tiễn.

10. MỘT VÀI KIẾN NGHỊ

Từ những thôn tin đã trình bày trong 9 mục nói trên, chúng tôi mạo muội đề xuất mấy kiến nghị.
– Hoàn toàn bỏ Âm lịch, chỉ dùng Dương lịch.
Ở Trung Hoa, năm 1911 Lãnh tụ cách mạng Tôn Trung Sơn, lãnh đạo thành công Cách mạng Tân Hợi, lật đổ chế độ phong kiến hàng ngàn năm, lên ngôi Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc, đã ra lệnh chính quyền nhà nước chỉ dùng Dương lịch, và khuyến cáo nhân dân không nên dùng Âm lịch.
Ở Việt Nam tháng 3/1945 Thủ tướng Chính phủ Đế quốc Việt Nam Trần Trọng Kim đã quyết định tương tự như Tổng thống Trung Hoa năm 1911.
Cũng ở Việt Nam, tháng 9/1945, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quyết định không dùng Âm lịch trong công vụ, nhưng không khuyến cáo nhân dân không nên dùng Âm lịch.
Bỏ Âm lịch, chỉ dùng Dương lịch, thì trong Dương lịch hàng tháng ghi thêm Ngày Trăng Tròn. Việc thêm thông tin này không có gì khó, không phức tạp như làm Âm lịch, bởi vì Dương lịch đã biết chính xác thời gian Mặt trăng quay quanh Quả đất là khoảng 29 ngày rưỡi. Khi biết ngày trăng tròn trong tháng này, thì có thể biết chắc chắn ngày trăng tròn của tháng tiếp theo.
Người Việt Nam có tục làm Giỗ Tổ Tiên, với ý nghĩ rằng ngày Giỗ là ngày hàng năm tưởng nhớ người đã khuất, vào đúng ngày ra đi. Phong tục Việt Nam lại lấy ngày Âm lịch là ngày Giỗ, nhưng như đã phân tích ở trên, một năm Âm lịch không đúng với một năm của trời đất, ngày Giỗ của năm nay theo Âm lịch, và ngày Giỗ năm sau theo Âm lịch sai lệch nhau hơn 10 ngày của tự nhiên, nghĩa là người Việt mỗi năm làm Giỗ vào những ngày khác nhau, hàng năm phải đọc Âm lịch để biết ngày Giỗ là ngày nào.
Cho nên, nếu người Việt tự quy định lại, làm Giỗ Tổ Tiên vào ngày tháng Dương lịch của ngày từ trần, thì Lễ Giỗ mới đúng là Lễ kỷ niệm ngày cha ông đi xa.
Người Việt Nam rất coi trọng ngày Tết, coi ngày Tết là ngày Lễ lớn nhất và nhiều ý nghĩa nhất trong mỗi năm. Thực chất ngày Tết chỉ là ngày mở đầu của một năm, ngày mồng một tháng giêng. Từ khi người Việt Nam dùng Lịch của người Tàu, thì bắt đầu ăn Tết vào ngày mồng một tháng giêng của Lịch Tàu, ngày đó người Tàu gọi là Nguyên Đán (元旦, nghĩa là ngày thứ nhất), hoặc là Xuân Tiết (春節, 春节, nghĩa là ngày lễ mùa Xuân), và người Việt Nam cũng gọi ngày Tết là Tết Nguyên Đán. Như đã phân tích ở trên ngày tháng theo Âm lịch không gắn liền với trời đất, thiên nhiên, khí hậu, nên hàng ngàn năm nay dân tộc ta ăn Tết vào ngày vô định của thiên nhiên, trời đất.
Bỏ Âm lịch, chỉ dùng Dương lịch, thì đương nhiên ngày Tết sẽ là ngày mồng Một tháng giêng Dương lịch, Ngày Tết cổ truyền vô cùng ý nghĩa của chúng ta vẫn giữ được nguyên vẹn là ngày Tết đầu năm, là Nguyên Đán, không mất mát thay đổi gì cả.
Nhân đây xin nói thêm một chút: năm 2005. GS.TS. Võ Tòng Xuân, một nhà khoa học lớn, một nhà yêu nước chân chính, một người đã có nhiều cống hiến lớn cho nền khoa học của Việt Nam và của nhân loại, đã đề xuất “bỏ ăn Tết Âm lịch, chỉ ăn Tết Dương lịch”. Ý tưởng này đã làm xôn xao ầm ĩ công luận, với 1 phe ủng hộ và 1 phe phản đối. Cho đến gần đây có người còn kiến nghị Nhà nước tước bỏ học hàm học vị của GS. Xuân; có người còn kiến nghị thu hồi lương hưu của Cụ.
Thực ra, nếu Cụ Xuân chỉ đề nghị “bỏ dùng Âm lịch, chỉ dùng Dương lịch”, thì chắc mọi việc sẽ ổn thỏa, KHÔNG AI CÓ LÝ SỰ GÌ ĐỂ PHẢN ỨNG NGƯỢC !
– Cải tiến một chút cho Dương lịch hiện nay.
Dương lịch hiện nay, như đã phân tích ở trên, là hết sức khoa học, hết sức hoàn chỉnh, hết sức thuận lợi cho người dùng.
Nhưng trong Dương lịch hiện nay có 1 điểm chưa thuận tiện. Đó là, mỗi năm có 365 ngày hoặc 366 ngày, trong khi mỗi tuần lễ có 7 ngày, mỗi năm có 365/7 ngày thành 52 tuần lễ, dư 1 ngày 1 dẫn đến tình trạng, “Thứ trong tuần” của “Ngày, Tháng” năm nay sẽ lệch với “Thứ trong tuần” của cùng “Ngày, Tháng” của năm sau, ví dụ: ngày mồng một tháng Giêng năm 2023 là ngày Chủ nhật, thì ngày mồng một tháng Giêng năm 2024 sẽ là ngày Thứ hai. Điểm này làm mất tính đồng nhất của Dương lịch, Lịch năm này vẫn khác Lịch năm nọ, gây bất tiên cho người dùng.
Có một cách khắc phục, hết sức đơn giản, là quy định ngày cuối cùng của năm: ngày 31/12, sẽ được đặt tên bằng một tên riêng nào đó, không nằm trong bảy “Thứ” của tuần lễ, ví dụ đặt tên là “Thứ Cuối năm”, thì tuần lễ cuối cùng của năm sẽ có 8 ngày, và Ngày mồng Một tháng Một của năm sau sẽ cùng Thứ với Ngày mồng Một tháng Một của năm trước. Kết quả là, tất cả các Ngày Tháng của năm sau sẽ có cùng Thứ với tất cả Ngày Tháng của năm trước, và Dương Lịch sẽ là 1 Bản đồng nhất cho muôn đời! Quy định tuần lễ cuối cùng có 8 ngày, 8 “Thứ”, không có gì là “khác thường”, vì giống như trong Dương lịch hiện nay, quy định năm nhuận có 29 ngày.
Với cải tiến này, phải có thêm quy định: “Ngày nhuận” 29/2 sẽ có tên “Thứ” riêng, ví dụ “Thứ nhuận”, chứ không phải là “Thứ” tiếp theo của Ngày 28/2, và như vậy, Tuần lễ có Ngày nhuận sẽ có 8 ngày.
HY VỌNG 2 KIẾN NGHỊ TRÊN SẼ ĐƯỢC MỌI NGƯỜI ỦNG HỘ!
Tác giả: TS. NGUYỄN BÁCH PHÚC

Bonus: Cách tính 24 tiết khí trong năm

Thời gian cụ thể và ý nghĩa riêng của mỗi tiết khí được giải thích như sau:

1/ TIẾT KHÍ MÙA XUÂN

Tiết khí mùa xuân gồm những tiết khí nào?
* Tiết Lập xuân: Nghĩa là thời gian bắt đầu mùa xuân. Tiết khí này báo hiệu một năm mới đã đến, vạn vật vũ trụ bước vào chu kì tuần hoàn mới.
Tiết Lập xuân rơi vào ngày 04 hoặc ngày 05 tháng 02 dương Lịch hàng năm. Mặt trời ở vị trí 315 độ.
* Tiết Vũ thủy: Là thời điểm mưa ẩm, mưa nhiều trong năm. Khoảng thời gian này, trời âm u nhiều mây, những cơn gió xuân cũng xuất hiện. Gió thường mang theo thường xuyên hơi ẩm kéo theo hiện tượng nồm nhà, …
Tiết Vũ Thủy có thể rơi vào ngày 19/2 hoặc 20/2 dương lịch hàng năm. Mặt trời ở vị trí 330 độ.
* Tiết Kinh trập: Nghĩa là sâu bọ tỉnh dậy. Khi mùa xuân tới, cây cối đâm chồi nảy lộc, các loại côn trùng, sâu bọ cũng bắt đầu sinh sôi, nảy nở.
Tiết Kinh trập có khả năng rơi vào ngày 6/3 hoặc 7/3 dương lịch hàng năm. Mặt trời ở vị trí 345 độ.
* Tiết Xuân phân: Nghĩa là giữa xuân. Sau ngày này, vị trí Mặt trời chếch dần lên phía Bắc bán cầu. Ngày dài, đêm ngắn, thời tiết qua cái lạnh của mùa đông, bước vào thời gian nắng ấm.
Tiết Xuân phân có thể rơi vào ngày 21/3 hoặc 22/3 dương lịch hàng năm. Mặt trời ở vị trí 0 độ.
* Tiết Thanh minh: Nghĩa là thời tiết trong sáng, mọi người đi cúng thanh minh. Khí hậu ấm áp, mát mẻ, cây cối đâm chồi nảy lộc.
Tiết Thanh minh có thể rơi vào ngày 4/4 hoặc 5/4 dương lịch hàng năm. Mặt trời ở vị trí 15 độ.
* Tiết Cốc vũ: Thời điểm của những trận mưa rào trút xuống. Đây là lúc báo hiệu thời tiết sắp chuyển sang mà hạ. Nhờ vào những trận mưa lớn mà vạn vật được sinh sôi, nảy nở, cây cỏ hoa màu đều đặn tươi tốt.
Tiết Cốc vũ có khả năng rơi vào ngày 20/4 hoặc 21/4 dương lịch hàng năm. Mặt trời ở vị trí 30 độ.

2/ TIẾT KHÍ MÙA HẠ

Mùa hạ cũng gồm 6 tiết khí
* Tiết Lập hạ: Nghĩa là thời gian bắt đầu mùa hạ. Nhiệt độ tăng một cách đáng kể, nắng nóng, mưa bão sấm chớp nhiều. Cây cối cũng nhờ vậy mà phát triển nhanh.
Tiết Lập hạ có khả năng rơi vào ngày 6/5 hoặc 7/5 dương lịch hàng năm. Mặt trời ở vị trí 45 độ.
* Tiết Tiểu mãn: Nghĩa là có lũ nhỏ. Thời nơi này có thể xảy ra nhiều trận mưa mùa hạ và đợt lũ nhỏ.
Tiết Tiểu mãn có khả năng rơi vào ngày 21/5 hoặc. 22/5 Mặt trời ở vị trí 60 độ.
* Tiết Mang chủng: Nghĩa là thời gian ngũ cốc hoa màu vào mùa. Thời tiết nóng bức, có mưa bất chợt, đôi khi còn có cả sấm sét. Lúc này, người ta cũng có thể nhìn thấy sao Tua rua mọc.
Tiết Mang chủng có thể rơi vào ngày 5/6 hoặc 6/6 dương lịch hàng năm. Mặt trời ở vị trí 75 độ.
* Tiết Hạ chí: Nghĩa là giữa mùa hạ. Thời tiết nóng nực oi bức, mặt trời chiếu sáng thời gian dài, đêm rất ngắn. Từ đó mà dân gian có câu: “Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, ngày tháng mười chưa cười đã tối”.
Tiết Hạ chí có thể rơi vào ngày 21/6 hoặc 22/6 dương lịch hàng năm. Mặt trời ở vị trí 90 độ.
* Tiết Tiểu thử: Nghĩa là nắng nhẹ. Thời tiết khá nắng nóng nhưng chưa đạt đến mức nóng nhất.
Tiết Tiểu thử có khả năng rơi vào ngày 7/7 hoặc 8/7 dương lịch hàng năm. Mặt trời ở vị trí 105 độ.
* Tiết Đại thử: Nghĩa là nắng gắt. Đây là lúc khí hậu nắng gắt, oi bức cực kì khó chịu. Sau đó là sự xuất hiện của nhiều cơn bão, áp thấp nhiệt đới.
Tiết Đại thử có khả năng rơi vào ngày 22/7 hoặc 23/7 dương lịch hàng năm. Mặt trời ở vị trí 120 độ.

3/ TIẾT KHÍ MÙA THU

Tiết khí mùa thu có đặc điểm gì?
* Tiết Lập thu: Nghĩa là thời gian bắt đầu mùa thu. Trời dịu mát, chiều tối cảm nhận được không khí hơi se mát. Mọi người thường nhớ đến hương cốm và hoa cúc của mùa thu.
Tiết Lập thu có thể rơi vào ngày 7/8 hoặc 8/8 dương lịch hàng năm. Mặt trời ở vị trí 135 độ.
* Tiết Xử thử: Nghĩa là mưa ngâu. Nắng nóng càng lúc càng hết dần, khí hậu mát mẻ mùa thu rõ rệt hơn.
Tiết Xử thử có khả năng rơi vào ngày 23/8 hoặc 24/8 dương lịch hàng năm. Mặt trời ở vị trí 150 độ.
* Tiết Bạch lộ: Trời chuyển mát hẳn, ánh nắng mặt trời nhạt màu. Chiều tối đi ra đường còn thấy hơi lạnh và sương rơi về đêm.
Tiết Bạch lộ có thể rơi vào ngày 8/9 hoặc 9/9 dương lịch hàng năm. Mặt trời ở vị trí 165 độ.
* Tiết Thu phân: Nghĩa là thời gian giữa thu. hầu như không còn cảm nhận được nắng nóng, thường xuyên loại cây vào mùa thay lá, tạo nên khung cảnh tuyệt đẹp.
Tiết Thu phân có thể rơi vào ngày 22/9 hoặc 23/9 dương lịch hàng năm. Mặt trời ở vị trí 180 độ.
* Tiết Hàn lộ: Nghĩa là thời tiết mát mẻ. Những nước ở nửa Bắc bán cầu như Việt Nam nhận được ít ánh nắng mặt trời, khí hậu lạnh và trời tối sớm.
Tiết Hàn lộ có thể rơi vào ngày 8/10 hoặc 9/10 dương lịch hàng năm. Mặt trời ở vị trí 195 độ.
* Tiết Sương giáng: Nghĩa là sương mù xuất hiện. Chiều tối, đêm và sáng sớm sương rơi thường xuyên, có cả sương muối gây ra hại cho việc trồng trọt canh tác hoa màu.
Tiết Sương giáng có thể rơi vào ngày 23/10 hoặc 24/10 dương lịch hàng năm. Mặt trời ở vị trí 210 độ.

4/ TIẾT KHÍ MÙA ĐÔNG

Tiết khí mùa đông kết thúc chu kỳ 24 tiết khí trong năm
* Tiết Lập đông: Nghĩa là thời điểm bắt đầu mùa đông. Xuất hiện những đợt không khí lạnh từ phía Bắc tràn về. Nhiệt độ xuống thấp, trời sáng muộn và tối sớm.
Tiết Lập đông có khả năng rơi vào ngày 7/11 hoặc 8/11 dương lịch hàng năm. Mặt trời ở vị trí 225 độ.
* Tiết Tiểu tuyết: Nghĩa là tuyết bắt đầu rơi nhưng ở lượng vừa phải. tuy nhiên, Việt Nam không có tuyết nên có khả năng không thấy rõ tiết khí này như các nước Trung Quốc, Hàn Quốc..
Tiết Tiểu tuyết có khả năng rơi vào ngày 22/11 hoặc 23/11 dương lịch hàng năm. Mặt trời ở vị trí 240 độ.
* Tiết Đại tuyết: Nghĩa là các trận mưa tuyết rất lớn. nhiều đợt không khí lạnh với cường độ mạnh, các nước phương Bắc tuyết phủ kín khắp nơi. Ở Việt Nam một số tỉnh vùng núi phía Bắc đôi lúc cũng xảy ra hiện tượng băng giá.
Tiết Đại tuyết có khả năng rơi vào ngày 7/12 hoặc 8/12 dương lịch hàng năm. Mặt trời ở vị trí 255 độ.
* Tiết Đông chí: Nghĩa là thời gian giữa mùa đông. Những ngày này bình minh rất muộn, 6 -7 giờ còn chưa sáng rõ. Ngược lại hoàng hôn đến sớm, nhiệt độ cũng vì thế mà Giảm nhanh.
Tiết Đông chí có khả năng vào ngày 21/12 hoặc 22/12 dương lịch hàng năm. Mặt trời ở vị trí 270 độ.
* Tiết Tiểu hàn: Nghĩa là rét vừa (tiểu là nhỏ, hàn là lạnh). Thời tiết có những đợt rét lạnh nhưng vẫn ở mức dễ chịu, cường độ không khí lạnh chưa đạt đến mức khắc nghiệt.
Tiết Tiểu hàn có khả năng vào ngày 5/1 hoặc 6/1 dương lịch hàng năm. Mặt trời ở vị trí 285 độ.
* Tiết Đại hàn: Nghĩa là trời rét gắt, rét cực độ. Khí hậu lạnh giá, trời rét căm căm đến thấu xương. Những người làm nông nghiệp phải lo che chắn chuồng trại, phủ kín hoa màu.
Đây là tiết khí cuối cùng, hoàn thành chu kỳ 24 tiết khí. Sau đó, một chu kì mới lại bắt đầu – đánh dấu bằng tiết Lập xuân.
Tiết Đại hàn có khả năng vào ngày 20/1 hoặc 21/1 dương lịch hàng năm. Mặt trời ở vị trí 300 độ.

Xem thêm
Văn hoá phong tục

Tổng quan về 12 cung hoàng đạo Zodiac

Cung Hoàng Đạo là gì và nguồn gốc?

Nếu hiểu khái niệm cung hoàng đạo là gì sẽ giúp bạn hiểu được bí mật 12 cung hoàng đạo. Theo thiên văn học, mặt trời sẽ chuyển động đi qua các chòm sao tạo thành một vòng tròn lớn. Vòng tròn này được chia thành 12 phần bằng nhau tương ứng với 12 chòm sao đó là: Bạch Dương, Kim Ngưu, Song Tử, Cự Giải, Sư Tử, Xử Nữ, Thiên Bình, Bọ Cạp, Nhân mã, Ma Kết, Bảo Bình và Song Ngư.

Nếu bạn sinh vào ngày tháng mà mặt trời đang ở vị trí của cung hoàng đạo nào thì bạn sẽ thuộc chòm sao đấy. Người ta tin rằng, mỗi cung hoàng đạo sẽ có những nét cá tính, đặc điểm khác nhau.

Cung hoàng đạo có nguồn gốc từ trước công nguyên do các nhà chiêm tinh học Babylon cổ đại sáng tạo ra. Tên tiếng anh là Zodiac nghĩa là “Bánh xe cuộc sống” với 12 phần bằng nhau. Ngày ngay việc sử dụng 12 cung hoàng đạo để tiên đoán tương lai, sự nghiệp, tình duyên đã không xa lạ đối với giới trẻ.

4 yếu tố tự nhiên trong 12 cung Hoàng Đạo

Những bí mật 12 cung hoàng đạo phần nào được thể hiện qua 4 nhóm yếu tố gồm: Nước, Lửa, Đất, Không Khí tương ứng với 4 mùa trong năm Xuân, Hạ, Thu, Đông.

  • Yếu tố Nước: Bọ Cạp, Cự Giải, Song Ngư là những cung mang nguyên tố Nước. Đặc trưng của yếu tố cung hoàng đạo này là cực kỳ nhạy cảm, dễ xúc động và có trực giác cao. Tâm hồn của họ như đại dương bao la, bí ẩn, dạt dào cảm xúc. Họ luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người bất cứ điều gì mà không đòi hỏi yêu cầu nào cả.
  • Yếu tố Lửa: Gồm cung Sư Tử, Bạch Dương, Nhân Mã. Như những ngọn lửa hừng hực, họ khó có thể kiểm soát bản tính nóng giận của mình. Tuy nhiên họ lại rất mạnh mẽ, năng động và nhiệt huyết cao.
  • Yếu tố Đất: Gồm cung Ma kết, Xử Nữ, Kim Ngưu. Tính cách nổi bật của những người thuộc cung này là trung thành, thích ổn định, bảo thủ và đôi khi cũng rất dễ xúc động.
  • Yếu tố Không Khí: Các cung còn sẽ mang yếu tố này gồm Song Tử, Bảo Bình, Thiên Bình. Những người thuộc chòm sao này có một tinh thần cực kỳ lý trí, giao tiếp tốt, tư duy thông minh, thích đọc sách và tham gia các buổi thảo luận.

    4 nguyên tố tự nhiên của cung hoàng đạo gồm: Nước, Lửa, Đất và Khí (Nguồn: Internet)
    4 nguyên tố tự nhiên của cung hoàng đạo gồm: Nước, Lửa, Đất và Khí (Nguồn: Internet)

Giải mã bí mật 12 cung Hoàng Đạo nam và nữ

Cung Bạch Dương (21/03 – 20/04)

Chú cừu đực với bộ lông vàng theo truyền thuyết Hy Lạp cổ đại là biểu tượng cho chòm sao Bạch Dương. Là cung hoàng đạo đi đầu tiên trong 12 cung nên Bạch Dương sở hữu tính cách năng động, xông xáo luôn là người dẫn lối tiên phong. Ở họ có sự dũng cảm, can trường, dám chiến đấu với mọi thử thách như chiếc sừng của chú cừu sẵn sàng phá vỡ mọi khó khăn.

Bạch Dương có xu hướng thiếu kiên nhẫn và có phần ngạo mạng, không nhường nhịn ai, thích lãnh đạo người khác nên cũng dễ bị người khác ganh ghét.

Cung Bạch Dương - Aries
Cung Bạch Dương – Aries

Cung Kim Ngưu (21/04 – 20/05)

Kim Ngưu có biểu tượng là hình ảnh con bò vàng. Những người thuộc chòm sao này có lòng trung thực, đáng tin cậy. Vì vậy Kim Ngưu sẽ trở thành một người bạn, người đồng nghiệp tuyệt vời trong công việc lẫn cuộc sống. Bên cạnh đó, họ còn là người hiền lành, chu đáo và có tinh thần trách nhiệm. Tuy nhiên, Kim Ngưu lại khá cứng đầu, tham vọng nên đôi khi có những hành động thiếu kiểm soát.

Cung Kim Ngưu
Cung Kim Ngưu

Cung Song Tử (21/05 – 21/06)

Cung Song Tử là những người dễ dàng thích nghi và hòa nhập với môi trường mới. Cộng với bản tính thông minh, ham học hỏi và đặc biệt là vô cùng tình cảm nên Song Tử rất được mọi người yêu mến.

Nói về bí mật 12 cung hoàng đạo thì biểu tượng của Cung Song Tử có phần đặc biệt. Đó chính là hình ảnh hai anh em Pollux và Castor trong thần thoại Hy Lạp. Có lẽ vì thế những người thuộc cung mệnh này thường tồn tại hai bản tính trái ngược nhau trong một cơ thể. Do đó, có thể bạn sẽ cảm nhận Song Tử là người hay thay đổi suy nghĩ, thiếu sự kiên định trong mọi việc.

Cung Song Tử
Cung Song Tử

Cung Cự Giải (22/06 – 22/07)

Cự Giải thuộc nguyên tố Nước, có biểu tượng là hình một con cua. Cung hoàng đạo này sở hữu tính cách lương thiện, dịu dàng, khéo léo, sống nội tâm khép kín. Bên ngoài tuy lạnh lùng, cứng rắn như lớp vỏ cua nhưng tâm hồn rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương.

Điểm yếu của Cự Giải là hay buồn bã, bi quan nên có suy nghĩ tiêu cực. Để hiểu hết một Cự Giải là điều không đơn giản bởi ở họ có những suy nghĩ rất phức tạp. Họ thường lo lắng và nghĩ nhiều về hành động của người khác đối với mình.

Cung Cự Giải
Cung Cự Giải

 

Cung Sư Tử (23/07 – 22/08)

Như chính hình tượng cung hoàng đạo là chú Sư Tử hùng dũng nên những người thuộc chòm sao này có cá tính mạnh mẽ, can đảm và táo bạo. Họ rất thông minh, luôn đi đầu trong các cuộc thi về trí tuệ. Chính sự giỏi giang đó làm cho Sư Tử có phần kiêu ngạo, tự cao tự đại, có cái tôi rất lớn luôn cho mình là nhất. Ngoài ra, tính bướng bỉnh và lười biếng cũng chính là nhược điểm của Sư Tử khiến mọi người rất khó chịu.

Cung Sư Tử
Cung Sư Tử

Cung Xử Nữ (23/08 – 22/09)

Biểu tượng của cung Xử Nữ là hình ảnh nữ đồng trinh. Dường như thế mà đa số nữ giới thuộc cung Xử Nữ thường xinh đẹp, sắc sảo, thông minh. Ngoài ra sự tinh tế, tốt bụng, sẵn sàng giúp đỡ người khác cũng là một điểm mạnh của cung hoàng đạo này. Tuy nhiên, họ khá ít nói và trầm tính, ở họ toát lên một vẻ bí ẩn mà người khác muốn tìm hiểu và khám phá.

Nói về bí mật 12 cung hoàng đạo thì tình yêu của Xử Nữ rất thú vị bởi vì các cô Nàng Xử Nữ xinh đẹp, các chàng trai Xử Nữ lạnh lùng, cuốn hút tạo nhiều ra nhiều câu chuyện tình đẹp.

Cung Xử Nữ
Cung Xử Nữ

Cung Thiên Bình (23/09 – 23/10)

Thiên Bình có biểu tượng là hình ảnh cán cân công lý chính vì thế người thuộc cung này rất công bằng, thẳng thắn, nhìn nhận vấn đề khách quan. Bên cạnh đó, họ là người rất xinh đẹp, thông minh, ngoại giao tốt. Tuy nhiên, bạn đừng chọc giận Thiên Bình nhé, họ rất dễ tủi thân và đặt nặng mối tư thù, họ có thể lên kế hoạch dài ngày, dài tháng để trả thù đấy.

Cung Thiên Bình
Cung Thiên Bình

Cung Bọ Cạp (24/10 – 22/11)

Ưu điểm của Bọ Cạp là mạnh mẽ, kiên trì, sống có lý tưởng. Họ làm hết mình, luôn cố gắng để đạt được mục tiêu đã đề ra. Khuyết điểm trong tính cách của Bọ Cạp là tính ngoan cố và kiệm lời, sống nội tâm, rất khó để bạn tạo được niềm tin cho họ.

Như những chú Bọ Cạp với chiếc đuôi chứa nọc độc, những người thuộc cung Bọ Cạp sẵn sàng trả đũa bạn một cách quyết liệt khi bạn làm tổn thương họ. Đây chính là bí mật 12 cung hoàng đạo rất đáng chú ý của cung Bọ Cạp.

Cung Bọ Cạp
Cung Bọ Cạp

 

Cung Nhân Mã (23/11 – 21/12)

Đặc trưng nổi bật trong tính cách của người cung Nhân Mã là thích sống tự do, họ không thích bị kiểm soát hay bó buộc bởi bất kỳ mối quan hệ nào. Không phải vì thế mà họ sống phóng khoáng trái lại họ cực kỳ tình cảm, hài hước mang tới sự lạc quan cho người đối diện. Ngoài ra, Nhân Mã được đánh là người trung thực và thẳng thắn nhất trong 12 cung hoàng đạo.

Cung Nhân Mã
Cung Nhân Mã

Cung Ma Kết (22/12 – 19/01)

Tham vọng, tinh thần trách nhiệm cao, cẩn trọng và kiên nhẫn là những đức tính tốt đẹp của người thuộc cung Ma Kết. Tuy nhiên, họ sống theo những nguyên tắc cứng nhắc, sợ bị lợi dụng, khá đề phòng trong các mối quan hệ vì thế khá ít bạn bè.

Cung Ma Kết (22/12 – 19/01)
Cung Ma Kết (22/12 – 19/01)

 

Cung Bảo Bình (20/01 – 18/02)

Hình ảnh tượng trưng của cung hoàng đạo này là một vị thần mang bình nước. Bảo Bình là người có trí tuệ, thông minh, có ước mơ lớn lao. Tuy nhiên, họ có tính tò mò chính vì vậy họ dễ suy nghĩ khá nhiều.

Là người sống hoạt bát, hướng ngoại nên bạn sẽ cảm nhận được nguồn năng lượng tích cực khi tiếp xúc với Bảo Bình. Bên cạnh đó, họ cũng có phần cứng đầu, ưa chuộng tự do và không thích bị chi phối bởi người khác.

Cung Bảo Bình
Cung Bảo Bình

 

Cung Song Ngư (19/02 – 20/03)

Hình ảnh hai chú cá bơi lượn tự do, đan xen ngược chiều nhau chính là biểu tượng của cung Song Ngư. Hình ảnh tượng trưng đầy nghệ thuật, thơ mộng phần nào thể hiện cho lối sống tình cảm, ngây thơ và mơ mộng của những người thuộc cung Song Ngư. Với tính cách này, những cô nàng Song Ngư khiến mọi người luôn muốn được che chở.

Bí mật 12 cung hoàng đạo của Song Ngư chính một trái tim ấm áp, một tấm lòng nhân hậu và sẵn sàng cho đi mọi thứ để giúp đỡ những người xung quanh. Ở họ có tâm hồn tràn đầy cảm xúc yêu thương, sẵn sàng rơi nước mắt chỉ vì một bộ phim, một quyển tiểu thuyết xúc động.

Cung Song Ngư
Cung Song Ngư

Những bí mật thú vị của 12 cung Hoàng Đạo

Cung Hoàng Đạo bí ẩn nhất

Bọ Cạp chính là cái tên đứng đầu tiên trong bảng xếp hạng cung hoàng đạo bí ẩn nhất. Bọ Cạp luôn tạo ra vẻ ngoài lạnh lùng, cứng rắn nhưng trong là một tâm hồn mỏng manh. Không ai có thể đọc được hết những gì đang diễn ra trong tâm trí của họ. Mỗi khi bạn cảm thấy đã hiểu Bọ Cạp thì ngay lập tức họ lại cho thấy mặt khác mà bạn chưa từng thấy trước đó. Vì thế những cô nàng, chàng trai Bọ Cạp luôn là điều thú vị, khơi gợi sự tò mò muốn khám phá từ những người xung quanh.

Cung Hoàng Đạo thông minh nhất

Song Tử sở hữu IQ đến 130 cao hơn hết trong 12 cung hoàng đạo. Đây là chòm sao “văn võ song toàn”, có vốn kiến thức phong phú trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Dường như Song Tử sở hữu hai bộ não, một bộ não dùng cho công việc, bộ não còn lại dành chuyện tình cảm.

Nổi bật với sự thông minh, nhạy bén và sở hữu nhiều tài lẽ nên những người cung này thường có sự nghiệp tươi sáng và rộng mở. Họ có khả năng nắm bắt suy nghĩ của người khác, có tài ăn nói nên dễ dàng nhận được tình cảm của người khác.

Cung Hoàng Đạo xinh đẹp nhất

Đứng đầu trong danh sách top chòm sao xinh đẹp nhất chính là Thiên Bình. Những chàng trai, cô nàng Thiên Bình sở hữu vẻ ngoài ưa nhìn, cuốn hút người đối diện. Không những vậy, họ còn là người yêu cái đẹp nên luôn xuất hiện với vẻ ngoài ngoài chỉn chu. Đó là lý do vì sao Thiên Bình luôn đẹp, luôn thu hút trước mọi người.

Tật xấu của 12 cung Hoàng Đạo

  • Bạch Dương – Nóng nảy, bốc đồng: Họ hành động như một đứa trẻ, nóng vội và hấp tấp. Với tính khí này, Bạch Dương dễ có những hành vi nằm ngoài kiểm soát, có thể gây tổn thương người khác bằng lời nói lẫn hành động.
  • Kim Ngưu – Lười vận động: Kim Ngưu có tầm hồn ăn uống vì thế cơ thể có phần nặng nề và điều đó làm bạn lười biếng và có phần chậm chạp. Kim Ngưu chỉ thích ngồi một chỗ chẳng thích đổ mồ tham gia các hoạt động tiêu hao năng lượng.
  • Song Tử –“Lươn lẹo” ăn gian nói dối: Là người có khiếu ăn nói và trí thông minh nên Song Tử rất nhanh trí trong mọi tình huống. Họ có thể lèo lái câu chuyện sang hướng khác không đúng với sự thật để làm vừa lòng ai đó.
  • Cự Giải – bủn xỉn, keo kiệt: Như chiếc càng cua một khi đã quắp chặt cái gì thì thà hy sinh một càng chứ nhất quyết không vuột mất. Cự Giải không có ý định từ bỏ bất cứ thứ gì từ người yêu, bạn thân, địa vị đến tập ảnh cũ hay đôi dép lê đã mòn…
  • Sư Tử – Phô trương, tiêu xài quá trớn: Sư Tử là những người giỏi giang, tháo vát nên họ có thể kiếm được thu nhập cao nhưng bạn lại khó có tiết kiệm được tiền.
  • Xử Nữ – Sạch sẽ quá độ:Xử Nữ rất kỹ tính, ngôi nhà họ luôn sạch sẽ với mọi vật dụng được đặt đúng vị trí của nó. Sạch sẽ là thói quen tốt nhưng đôi khi quá độ làm bạn khó thích nghi với một môi trường nào đó.
  • Thiên Bình – Ngang bướng, không bao giờ chịu nhận lỗi:Thích tranh luận nhưng Thiên Bình lại là kẻ ngang bướng nhất, dù chính mình làm sai nhưng quyết liệt bác bỏ mọi lỗi lầm.
  • Bọ Cạp – Thù dai: Đây là bí mật 12 cung hoàng đạo của Bọ Cạp mà bạn cần cẩn thận. Đừng bao giờ làm tổn thương Bọ Cạp, họ sẵn sàng nuôi thù qua hàng chục năm. Điều nguy hiểm hơn hết là vẻ ngoài rất bình thản nhưng lại nuôi một kế hoạch trả thù lâu dài.
  • Nhân Mã – Lăng nhăng, đào hoa:Là người có lối sống cởi mở, phóng khoáng chính vì vậy Nhân Mã dễ sa vào con đường lăng nhăng. Họ có thể là “hung thủ” làm tan nát trái tim của nhiều người.
  • Ma Kết – Tham lam không đáy:Vừa cầu toàn vừa tham vọng, Ma Kết sẽ không từ một thủ đoạn nào để đạt được mục đích của mình.
  • Bảo Bình – Vô tâm, lạnh lùng:Chính sự vô tâm này làm cho mối quan hệ của Bảo Bình dễ đổ vỡ, ít thân thiết lâu dài với một ai.
  • Song Ngư – Quá mơ mộng và lãng mạn: Tâm hồn bay bổng của Song Ngư đẩy họ đến một thế giới quá đẹp và đôi khi trở lại với thực tế sẽ làm họ thất vọng và buồn phiền.
Xem thêm
12 cung hoàng đạo (Zodiac sign)

Tử Vi Ứng Dụng – Nguyễn Nguyên Bảy

Bộ sách này vốn chỉ là những soạn chép cá nhân sau 50 năm nghiên cứu và hành nghề dịch học, nay tuổi đã gần về mép đất, vội tập hợp lại thành sách BNN GIẢI MÃ DỊCH HỌC, trước là cho con cháu trong nhà , cho học trò gần xa, sau là kính tặng bạn đọc có lòng yêu thích dịch học như một tài liệu tham khảo. Người soạn chép sách này không cầu danh, cầu lợi. Danh thuộc về sách thần Kinh Dịch, lợi (nếu có) xin được làm công quả.

Bộ sách này gồm tập hợp 3 tiểu sách:

1/ Tử Vi Ứng Dụng

2/ Phong Thủy Ứng Dụng

3/ BNN Giải Mã Ma Trận 384

Sẽ có hai điều khó tránh khỏi: Một là, các ví dẫn cụ thể, có thể làm phiền lòng những người từng là thân chủ. Hai là, những tài liệu không soạn/chép được xuất xứ đúng và trọn vẹn tên tuổi các vị tiền bối, chỉ bởi không thể, chứ không phải không muốn. Hai điều khó tránh này, nếu xẩy ra, người soạn chép cúi đầu cầu tha thứ. 

Bể dịch mênh mông, sách BNN Giải Mã Dịch Học xin làm con thuyền nhỏ.

Nguyễn Nguyên Bảy kính bạch.

Mời các bạn tải về theo đường dẫn: Tử vi Ứng dụng

Xem thêm
Tài liệu

Dự Báo Theo Tử Bình (Nghiên Cứu Văn Hóa Truyền Thống) – TRẦN KHANG NINH

Cuốn sách “Dự Báo Theo Tử Bình” là cuốn sách có nội dung phản ánh trình diễn cuộc đời một con người qua thời gian sinh theo Âm lịch, theo ý tưởng của một số nhà mệnh lý Trung Hoa cổ đại, đặc biệt của ngài Từ Cư Dịch, tự là Tử Bình, sống vào đời Ngũ Đại (0907-0906) Trung Hoa cổ.
Nội dung chính của sách được giới thiệu như sau:

  • Phần 1: Cấu trúc và dữ kiện thời gian sinh của một con người.
  • Phần 2: Những dự kiện cơ bản để dự báo theo tứ trụ bát tự.
  • Phần 3: Cách cụ và thần dụng.
  • Phần 4: Dự báo theo tứ trụ luận đề và minh chứng.
  • Phần 5: Quan niệm trái chiều về thuật đoán bệnh.
    Xin trân trọng giới thiệu cùng các bạn. Mời các bạn tải về theo đường dẫn: Dự Báo Theo Tử Bình
Xem thêm
Tài liệu

Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư – Thiên Lương

Với quyển sách Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư của Cụ Thiên Lương này chắc chắn rằng quí vị cũng sẽ say sưa với những lý giải thâm sâu, với lối hành văn tuy cô đọng nhưng bóng bẩy, ví von, với những tiết mục nói về nhân quả luân hồi, về hai chữ tài thọ, về đào hồng, tam hóa liên chau, về oan trái nghiệp quả của hình riêu không kiếp và vòng tràng sinh mà đã có một thời các nhà hâm mộ tử vi hải ngoại tranh luận kịch liệt qua hội thảo và trên mặt báo chí Trắng Đen, Hồn Việt, Tập San Nghiên Cứu Tử Vi … chắc quí vị sẽ thích thứ khi tìm thấy những phát kiến mới khắp nơi những bái của cụ, về những cơ cấu chặt chẽ liên hệ của tinh đẩu hình hại, tinh đẩu đối cung và tinh đẩu nhị hợp, chúng ta sẽ thấy rõ hơn về cái bản thể của mỗi người, thấy rõ khoa tử vi không phải là một khoa huyền bí mà là một khoa có bố cục tinh vi, linh hoạt, không tà thuật, mê hoặc.

Mời các bạn tải về theo đường dẫn: Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư

Xem thêm
Tài liệu

Tử Vi Đẩu Số Tân Biên (Vân Đằng Thái Thứ Lang)

Tử vi đẩu số có thể tìm hiểu được một phần nào cuộc sống trước sau mà Định Mệnh đã an bài cho mỗi người. Nghiên cứu Tử vi đẩu số là để “biết mình” và cũng là để “biết người”. Đây là bộ sách tử vi kinh điển giá trị nhất, là sách gối đầu giường cho những ai nghiên cứu tử vi, dù là người mới biết hay người đã thấu hiểu uyên thâm. Bộ sách được biên soạn công phu, trình bày mạnh lạc khoa học, giúp bạn đọc nắm bắt thực tiễn, thấu hiểu để vận dụng giải đoán vận mệnh đời người được chính xác.
Tử Vi Đẩu Số Tân Biên được chia làm 3 phần:
Phần I: Lập thành
Phần II: Luận đoán tổng quát
Phẩn III: Luận đoán vận hạn

Mời các bạn tải về theo đường dẫn: Tử Vi Đẩu Số Tân Biên

Xem thêm
Tài liệu

Thần số học Pythagoras

Thần số học Pitago nghiên cứu về những con số trong ngày sinh và các chữ cái trong họ và tên của bạn. Với các đặc điểm về tính cách, nội tâm, thái độ, lối sống, ưu điểm, nhược điểm, những sự kiện, hành trình trong cuộc đời chúng ta và sự rung động giữa các con số đó.

Xem thêm
Uncategorized

Bảo đồ sao cá nhân Astrology

Bản đồ sao Astrology là ứng dụng phổ biến của chiêm tinh học phương Tây thường được biết tới là để xem xét, đoán định về các khía cạnh tính cách hay các sự kiện trong cuộc đời của một cá nhân. Điều này dựa trên một bản đồ sao cá nhân chỉ rõ sự tương quan về vị trí giữa Mặt Trời, Mặt Trăng và các hành tinh khác vào thời điểm người đó được sinh ra. 

Xem thêm
Uncategorized

Quẻ kinh dịch

Gieo quẻ kinh dịch là phương pháp được sử dụng rộng rãi, giúp tiên đoán kết quả thành – bại của việc sắp tới sẽ làm hoặc dự đoán hung – cát của thời gian sắp tới.

Xem thêm
Uncategorized

Xem lịch – ngày giờ tốt

Xem thêm
Uncategorized

Copyright © 2026 Huyền Môn – Hệ sinh thái huyền học.

Powered by PressBook Masonry Dark

[user_registration_my_account]